Ở nhiều vùng quê Việt Nam, rau má là loại cây quen thuộc và ít được chú ý. Cây nhỏ, thân bò sát mặt đất, lá tròn như đồng xu, thường mọc thành từng đám ở vườn nhà, bờ ruộng, ven suối hoặc những khu đất ẩm. Có thời điểm, rau má bị xem như rau mọc hoang, không mấy ai chú ý. Nhưng với người biết dùng, đây lại là một trong những loại rau dân dã rất đáng đưa vào bữa ăn.
Theo các nghiên cứu khoa học rau má là cây dược liệu có giá trị, chứa nhiều nhóm hợp chất như saponin triterpenoid, flavonoid, tinh dầu và acid béo. Trong y học cổ truyền, rau má có nhiều tác dụng như hỗ trợ thanh nhiệt, giải độc.
Thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ lợi tiểu
Nhắc đến rau má, nhiều người nghĩ ngay đến một ly nước xanh mát trong ngày hè. Đây cũng là công dụng phổ biến nhất của loại rau này trong đời sống hằng ngày. Theo kinh nghiệm dân gian, rau má thường được dùng khi cơ thể có cảm giác nóng trong, bứt rứt, nổi rôm sảy hoặc khó chịu do thời tiết oi nóng. Một ly rau má xay ít đường, bát canh rau má nấu thịt băm hoặc rau má ăn kèm trong bữa cơm đều mang lại cảm giác nhẹ, mát và dễ chịu hơn so với các món nhiều dầu mỡ, cay nóng.
Theo cách gọi của y học cổ truyền, rau má có liên quan đến tác dụng “lợi thấp”, thường được hiểu là hỗ trợ đào thải bớt tình trạng ứ trệ, thấp nhiệt. Trong đời sống, nhiều người dùng rau má khi cảm thấy nóng trong, tiểu ít hoặc nước tiểu sẫm màu do uống không đủ nước.
Hỗ trợ làm dịu rôm sảy, mụn nhọt trong mùa hè
Rôm sảy, mụn nhọt, mẩn ngứa nhẹ là những vấn đề thường được dân gian gắn với tình trạng “nóng trong”. Rau má vì thế cũng hay được dùng trong các món ăn, nước uống mùa hè để hỗ trợ làm dịu cơ thể.
Về mặt thành phần, rau má chứa các nhóm hoạt chất đáng chú ý như saponin triterpenoid và flavonoid. Trong đó, các chất như asiaticoside và madecassoside là những thành phần thường được nhắc đến trong các nghiên cứu về rau má. VKIST cho biết nhóm saponin trong rau má, đặc biệt là asiaticoside, đã được báo cáo có liên quan đến quá trình tổng hợp collagen, phát triển mô liên kết và làm lành vết thương.
Đây cũng là lý do rau má xuất hiện nhiều trong các sản phẩm chăm sóc da. Tuy nhiên, ăn hoặc uống rau má không có nghĩa là có thể chữa mụn, chữa viêm da hay xử lý mọi vấn đề ngoài da. Với mụn viêm nặng, da sưng đau, chảy dịch, mẩn ngứa lan rộng hoặc tái phát kéo dài, cần đi khám da liễu.
Hỗ trợ lành thương và phục hồi da: Lý do rau má xuất hiện nhiều trong mỹ phẩm
Không chỉ là món ăn, rau má còn là thành phần quen thuộc trong mỹ phẩm. Trên nhãn sản phẩm, người dùng có thể thấy các tên như Centella asiatica extract, madecassoside, asiaticoside hoặc “cica”. Nhóm sản phẩm này thường hướng đến công dụng làm dịu da, hỗ trợ phục hồi hàng rào bảo vệ da, giảm cảm giác khó chịu sau kích ứng nhẹ hoặc sau mụn. Cơ sở của hướng ứng dụng này đến từ các hoạt chất trong rau má, đặc biệt là nhóm triterpenoid.
Bổ sung rau xanh, chất xơ và làm bữa ăn “nhẹ” hơn
Ngoài các tác dụng theo y học cổ truyền, lợi ích rõ ràng nhất của rau má là vai trò của một loại rau xanh. Rau má có thể được dùng trong canh, món trộn, rau sống hoặc nước xay, giúp tăng lượng rau trong khẩu phần.
Đây là điểm rất đáng chú ý, bởi nhiều người đang ăn thiếu rau nhưng lại tìm đến các sản phẩm bổ sung đắt tiền. Trong khi đó, một loại rau dân dã như rau má có thể đưa vào bữa ăn khá dễ dàng, chi phí thấp và không cần chế biến phức tạp. Cách dùng hợp lý nhất vẫn là coi rau má như một phần của chế độ ăn đa dạng. Không nên ngày nào cũng uống nước rau má quá đặc, cũng không nên thay thế hoàn toàn các loại rau khác bằng rau má.
Cách dùng rau má đúng để không lãng phí
Cách quen thuộc nhất là xay nước rau má. Rau cần được nhặt bỏ lá úa, rửa nhiều lần dưới vòi nước, có thể ngâm nước muối loãng rồi rửa lại. Sau đó xay với nước đun sôi để nguội, lọc lấy nước và uống trong ngày.
Nếu dùng để giải nhiệt, nên hạn chế đường. Nhiều ly rau má bán sẵn được thêm nhiều đường hoặc sữa đặc, khiến lượng năng lượng tăng lên đáng kể. Khi đó, thức uống vốn được xem là thanh mát lại không còn phù hợp với người cần kiểm soát cân nặng hoặc đường huyết.
Ngoài nước rau má, món canh rau má cũng rất đáng thử. Rau má có thể nấu với thịt băm, tôm hoặc cua đồng. Khi nấu chín, vị hăng và đắng nhẹ của rau má dịu hơn, dễ ăn hơn, phù hợp với bữa cơm gia đình.
Một số nơi còn dùng rau má để trộn gỏi hoặc ăn sống kèm các loại rau khác. Tuy nhiên, vì rau má mọc sát đất, khâu làm sạch phải được đặt lên hàng đầu. Không nên dùng rau hái ở nơi ô nhiễm, gần nguồn nước thải hoặc khu vực có nguy cơ tồn dư hóa chất.
Các chế phẩm từ rau má đáng chú ý
Rau má hiện không chỉ có dạng rau tươi. Trên thị trường, người dùng có thể gặp bột rau má sấy lạnh, trà rau má, nước rau má đóng chai, viên uống chiết xuất rau má và mỹ phẩm chứa rau má.
Bột rau má phù hợp với người cần sự tiện lợi. Có thể pha nước, làm sinh tố hoặc kết hợp với sữa hạt như Bột rau má nguyên chất Goce dạng gói nhỏ có giá 153.000đ hay Bột rau má nguyên chất Dalahouse có giá 135.000đ.
Trà rau má là lựa chọn nhẹ hơn cho người không quen vị rau má tươi. Các sản phẩm trà rau má thường được kết hợp thêm với các loại thảo mộc khác như Trà cà gai leo rau má Sadu thanh nhiệt cơ thể mát gan, giảm tình trạng mụn nhọt có giá 115.000đ; Trà rau má mã đề cỏ mực có giá 49.000đ.
Một số sản phẩm kem bôi từ rau má làm dịu da, chăm sóc da nhạy cảm như Kem dưỡng da mặt chiết xuất rau má Cỏ Mềm có giá 367.000đ; Kem bôi da Yoosun rau má có giá 54.000đ.
Ai nên thận trọng khi dùng rau má?
Người khỏe mạnh có thể dùng rau má như một loại rau trong bữa ăn. Nhưng người có bệnh gan, đang dùng thuốc điều trị dài ngày, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú hoặc người có cơ địa dị ứng nên thận trọng với nước rau má đặc, viên uống hoặc cao chiết xuất rau má.
Trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc người có bệnh nền cũng không nên dùng rau má theo kiểu truyền miệng để xử lý các triệu chứng kéo dài. Nếu có sốt, tiêu chảy nhiều, tiểu buốt, vàng da, mẩn ngứa lan rộng hoặc mệt mỏi bất thường, cần đi khám.
Nguồn: GenK


